Hiển thị các bài đăng có nhãn xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Nhà máy xử lý nước thải hiện đại nhất tại Việt Nam

Tổng giám đốc công ty Thoát Nước và Phát Triển đô thị tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ông Hòa Đức Thảo cho hay nếu tính trên cả nước Việt Nam thì công nghệ của nhà máy này là hiện đại bậc nhất với chức năng xử lý nước , bùn và cả mùi, nước sau khi xử lý có thể đem đi tưới tiêu và bùn có thể tái sử dụng.


Đây là dự án thu gom, xử lý và thoát nước TP Vũng Tàu được tài trợ 16 triệu Euros cho các nước mới nổi của Pháp. Theo đó, Dự án này do Busadco làm chủ đầu tư, được sử dụng nguồn vốn ODA Cộng hoà Pháp trong khuôn khổ đề án xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh BR – VT giai đoạn từ 2011-2015



Dự án được khởi động từ năm 1999 với tổng mức đầu tư ban đầu dự án lên đến 900 tỷ đồng, trong đó, vốn ODA gần 392 tỷ đồng, vốn đối ứng hơn 507 tỷ đồng. Dự án có quy mô 22.000m3/ngày đêm, dự án có 28 km chiều dài toàn tuyến ống thu gom và xử lý nước thải.


Dự án được khởi động từ năm 1999, dự án có mục tiêu đấu nối hệ thống nước thải của các khu dân cư tới hệ thống thu gom; cải tạo và mở rộng một hệ thống cống bán tách, xây dựng nhà máy xử lý nước thải. Cuối tháng 12 này sẽ đưa vào khai thác sử dụng.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Ô nhiễm trầm trọng sông Bắc Hưng Hải

Do phải hứng chịu nguồn nước chưa qua xử lý nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp nên nguồn nước trên sông Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, không thể sử dụng để phục vụ sản xuất nên hiện nay, hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải qua địa bàn Hưng Yên ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng,



Theo Sở TNMT Hưng Yên, các đơn vị chuyên môn đã nhiều lần lấy mẫu nước quan trắc trên hệ thống sông Bắc Hưng Hải để kiểm tra. Qua kết quả kiểm nghiệm, mức độ ô nhiễm nguồn nước tại hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải ngày một gia tăng và không đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Trong đó, hàm lượng nhiều chất không đạt như:tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) cao hơn từ 1 đến hơn 6 lần,  Ôxi hòa tan trong nước (DO) thấp hơn từ 1 đến hơn 7; các chất ô nhiễm đều vượt ở mức cao như: COD và BOD5 cao hơn từ 1 đến hơn 9 lần, PO43- vượt từ 1 đề gần 6 lần, Coliform vượt từ 1 trên 2 lần lần. Ngoài ra, một số mẫu phân tích phát hiện dầu mỡ và một số kim loại nặng gồm, thủy ngân, asen đều có chỉ tiêu ô nhiễm vượt từ 1,2 - 2 lần.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sông Bắc Hưng Hải phải hứng nhiều nguồn nước thải chưa qua xử lý của một số khu CN thuộc địa phận thành phố Hà Nội như: Khu công nghiệp Gia Lâm, Khu CN Sài Đồng đổ ra sông Cầu Bây rồi qua cống Xuân Thụy với khối lượng khoảng 7.100 m3 một ngày đêm. Tại Hưng Yên, hệ thống sông Bắc Hưng Hải tiếp nhận nước thải công nghiệp, sinh hoạt và nước thải làng nghề qua sông Như Quỳnh, huyện Văn Lâm; rồi nước thải công nghiệp, sinh hoạt qua sông Cầu Lường trên địa bàn huyện Mỹ Hào, sông Điện Biên qua huyện Yên Mỹ... Đây cũng đang là những dòng sông chết có nguồn nước đen đặc với chỉ số ô nhiễm cao từ nhiều năm nay. Theo đó, nước trên hệ thống sông Bắc Hưng Hải nhiều đoạn bị chuyển sang màu đen, bốc mùi hôi thối, tại một số cửa cống nước sủi bọt trắng kết thành khối lớn.

Theo người dân các huyện Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ: do nguồn nước ô nhiễm nặng nên những năm gần đây sông Bắc Hưng Hải đã không còn khả năng phục vụ sản xuất nông nghiệp và luôn trong tình trạng "tiêu không được tưới không xong". Bởi nước chảy đến đâu, thì cây trồng và các loại thủy cầm, thủy sản chết nổi ở đó. Mặc dù ngành chuyên môn đã có kết quả nghiên cứu của về mức độ ô nhiễm, nhưng người dân vẫn chưa thấy cơ quan chức năng nào vào cuộc để khắc phục và xử lý trong suốt những năm qua. Không những vậy, tình trạng ô nhiễm còn ngày càng gia tăng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Phạt 2 tỷ đồng vì xả nước thải



Sau khi người dân mang hàng trăm kg cá chết nhờ Chủ tịch Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết tình trạng ô nhiễm do 8 nhà máy xả nước thải ra sông.




Cơ quan chức năng kiểm tra các nhà máy xả thải ra sông


Xử phạt 8 nhà máy chế biến hải sản có hành vi xả thải ra sông Chà Và thuộc xã Tân Hải, huyện Tân Thành (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) tổng số tiền 2 tỷ đồng là quyết định của Cục Cảnh sát môi trường.


Theo Cục Cảnh sát môi trường, các nhà máy này là lắp đặt những máy bơm di động có công suất lớn. Mỗi ngày họ bơm nước thải từ 2 đến 4 tiếng xả ra sông Rạch Ván và sông Chà Và. Đây được cho là một trong những nguyên nhân khiến cá nuôi của ngư dân chết hàng loạt.


Tại khu vực hạ lưu sông Chà Và có khoảng 193 hộ nuôi cá với gần 5.000 lồng bè. Trong nhiều năm qua, tình trạng cá chết liên tục xảy ra gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Hơn hai tuần trước, tình trạng này lại tiếp diễn.


Ngày 7/9 nhiều người dùng xe ba bánh chở hàng trăm kg cá chết đến Trung tâm hành chính yêu cầu được gặp Chủ tịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để phản đối. Cơ quan chức năng đã thống kê thiệt hại cá chết đợt này của người dân khoảng 5 tỷ đồng.


Người dân cho rằng nước sông ô nhiễm khiến cá nuôi lồng của họ chết hàng loạt. 


Các cơ quan chức năng của tỉnh tiếp tục khảo sát, lấy mẫu đột xuất để xét nghiệm tại Viện Môi trường - Tài nguyên, đồng thời tiến hành thanh tra toàn diện về môi trường, đất tại các cơ sở chế biến hải sản.


Trong khi chờ kết quả xác định mẫu nước thải và nguyên nhân cá chết, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh tạm dừng hoạt động các cơ sở chế biến bột cá trên địa bàn tỉnh.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Nhà máy chế hạt điều xả nước thải hôi thối ra môi trường

Hệ thống XLNT tại nhà máy của công ty TNHH MTV Hoàng Phúc đã được ông Nguyễn Đình Xuân , giám đốc sở TNMT Tây Ninh yêu cầu chi cục bảo vệ môi trường và thanh tra sở kiểm tra lại vào ngày 8-8.


Người dân khổ với nước thải của nhà máy


Trước đó, sau nhiều lần nhà máy sản xuất và chế biến hạt điều của công ty (tại huyện Châu Thành) xả nước thải hôi thối ra môi trường, người dân đã phản ánh đến các ban ngành của huyện. Thậm chí, nhiều người đã gọi điện cho cảnh sát Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường, Công an tỉnh.

Ông Trần Văn Phượng (50 tuổi, ngụ ấp Suối Dộp, xã Thái Bình, huyện Châu Thành) cho biết cứ trời mưa là xả thải đen ngòm tràn ra đường và ra ruộng. Điều đáng nói là nước thải này từ hầm chứa nước thải công nghiệp và nước thải hầm cầu nên rất hôi thối.

Theo lời bà Đinh Thị Hằng (80 tuổi, nhà nằm trên con đường nước thải của nhà máy tràn qua mỗi ngày) cho biết nước thải của nhà máy chế biến hạt điều cứ chảy tràn liên tục, bất kể mưa hay nắng, mưa thì như suối còn nắng thì nước cứ rỉ tràn cả ra mặt đường. Nước hầm cầu cùng với nước điều gây ô nhiễm nặng.

Nhiều người dân khu vực xung quanh nhà máy cho biết hệ thống giếng nước của họ đã bị ô nhiễm, múc nước lên ngửi thấy mùi là muốn nôn thốc ra. Nhiều nhà phải đi chở nước từ nơi khác về để sinh hoạt.

Ông Đỗ Văn Hạnh, Trưởng ấp Suối Dộp, cho biết nhận được tin báo là đến hiện trường và nhận thấy nước xả đen ngòm hôi thối đổ ra ào ạt nên đã báo cho xã, cho huyện để xử lý.

Nước thải đen ngòm từ nhà máy xả ra


Quyền Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Ông Ngô Đức Hà cho biết phòng TN-MT huyện Châu Thành đã lập biên bản việc công ty TNHH MTV Hoàng Phúc để nước thải tràn ra phía ngoài hàng rào màu đen với mùi mủ điều, bên trong hàng rào công ty cũng còn tồn đọng nước đen.

Đơn vị này ước lượng nước thải rò rỉ từ nhà máy chế biến hạt điều  ra bên ngoài với lưu lượng khoảng 4,5m3/ngày. Theo ông Hà, cơ quan chức năng đã lấy mẫu nước thải về kiểm tra có kết quả sẽ làm căn cứ xử phạt đơn vị này.

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Những dòng sông xanh ở Hà Nội ngày càng đen



Với cảnh trên bến dưới thuyền trù phú, nước mát trong xanh các con sông ở Hà Nội đã đi vào thi ca, lịch sử. Ngày nay, các con sông ngày càng  ô nhiễm nghiêm trọng, nước đen sệt đặc quánh và bốc mùi hôi thối, vì lòng sông bị biến thành nơi chứa nước thải chưa qua xử lý của cả thành phố Hà Nội.


Ngày nào cũng có công nhân vớt rác trên các sông nội đô, nhưng vớt ngày này thì ngày mai lại có rác.


Sông bị đổi tên

Sông Tô Lịch hiện tại, ngoài những đoạn đã được cống hóa thì đoạn dọc đường Bưởi đến Ngã Tư Sở, dọc Kim Giang về đến khu vực Cầu Bươu đều lộ thiên. Sông Tô Lịch là nơi tiếp nhận chính nước mưa và đủ loại nước thải chưa qua xử lý của thành phố (nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, nước thải công nghiệp...) và cả nước bẩn từ sông Kim Ngưu, sông Lừ nhập vào, nên dọc tuyến dòng sông đều bị ô nhiễm nặng, nước đen kịt, đọng váng, sủi bọt bốc mùi hôi thối nồng nặc.




70 tuổi, số nhà 119, đường Giáp Nhất, phường Thượng Đình (quận Thanh Xuân) ông Hoàng Văn Cẩm, ở bên cạnh dòng Tô Lịch từ nhỏ nên biết được sự thay đổi của dòng sông này như thế nào. Ông Cẩm cho biết, sông Tô Lịch ô nhiễm nhiều năm, thường xuyên bốc mùi hôi thối nên người dân quanh đây đều gọi là “sông thối”. Trước kia, lòng sông rộng, nước trong, người dân còn ra sông tắm giặt và bắt tôm, cá, hái rau húng Láng về ăn. Vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước thành phố triển khai công tác nạo vét, đắp hai bên sông, năm 2003 tiến hành kè, nhưng dòng sông cứ dần bị ô nhiễm ngày một nặng. Ông Tùng mời chúng tôi vào nhà, rồi ra đóng cửa lại, bật sáng đèn điện. Ông Tùng bức xúc nói: “Sông Tô Lịch ở đoạn này giờ như cái mương nước thải hôi thối nên nhà tôi thường xuyên phải đóng cửa. Cả gia đình đều có vấn đề về đường hô hấp, nên ai cũng sợ”.




Cùng chung số phận, sông Kim Ngưu hay còn gọi là con sông Trâu Vàng, thì giờ đây dòng sông từ Lò Đúc đến Yên Sở đã thành màu đen đặc quánh, bốc mùi hôi thối rất khó chịu. Quán cà phê Mây Trắng, số 106, ngách 299/76, phường Hoàng Văn Thụ (quận Hoàng Mai), sát bên sông Kim Ngưu vắng tanh khách, trông rất điều hiu. Thấy khách vào, bà chủ quán tháo khẩu trang bịt trên mặt, đứng dậy xởi lởi chào khách. Trò chuyện hoạt động kinh doanh của quán, chị Nguyễn Thị Thanh Loan ngao ngán nói: “Quán mở hơn hai năm rồi, thời gian đầu khách đến khen không gian đẹp, nhưng gặp ngày nắng nóng sông bốc mùi hôi thối, họ đứng dậy trả tiền rồi về, từ đó mất khách dần. Gia đình trồng nhiều cây xanh để giảm bớt mùi thối từ dòng sông nhưng không được. Dỡ bỏ thì không đành, tôi cứ để vậy, được khách nào hay khách nấy”.

Cách quán cà phê Mây Trắng khoảng 50 m, mấy cụ bà ngồi rôm rả trò chuyện. Bà Mỹ Hưng, 68 tuổi cho biết, người dân dọc sông này thường đóng kín cửa, không dám cho trẻ em ra bờ sông chơi, vì sông quá ô nhiễm. Các anh nhìn sẽ thấy, nước sông đóng váng, đen ngòm, mùi hôi thối. Lâu ngày chị em mới ra đây ngồi, nhưng phải bật quạt để đẩy mùi hôi đi, chứ không chịu được. “Năm 1977 lúc là sinh viên y khoa, tôi được điều đi làm lao động xã hội chủ nghĩa nạo vét và mở rộng sông này. Trước kia, dòng sông hẹp, có nhiều loại rau xanh nên nước trong, người dân còn dẫn nước về làm ruộng và đào ao thả cá, chăn nuôi gà vịt… Bây giờ nhà san sát, khu đô thị ngày một nhiều, công ty và xí nghiệp mọc lên như nấm, tất cả đều xả thải ra dòng sông, thì hỏi sao không ô nhiễm”.

Mương nước thải
Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết, một ngày đêm có khoảng trên 500.000 m3 nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp của TP Hà Nội chưa qua xử lý, xả thẳng ra các dòng sông. Hiện nay, các nhà máy xử lý nước thải chỉ đáp ứng phần nhỏ nhu cầu nước thải của thành phố cần xử lý.

Quan sát kỹ mức độ xả nước từ các cống từng thời điểm khác nhau, thường buổi trưa, buổi tối thì lượng nước thải ra sông rất nhiều, mực nước sông dâng cao khoảng 50 cm. Chị Trương Thị Hà bán nước ở số 559 đường Kim Ngưu (quận Hai Bà Trưng) phản ánh: “Vào buổi trưa các công ty xả nước thải ra khu vực này màu đỏ, màu xanh, mùi hóa chất rất khó chịu”. Đúng 11 giờ, chị Hà lấy khẩu trang bịt kín mặt và chỉ tay xuống vị trí cống thoát nước nói, họ bắt đầu xả rồi đấy.

Chị Hà dẫn chúng tôi lần theo đường cống, ở phía cuối là Công ty CP Dệt Minh Khai. Làm việc với phóng viên, ông Vũ Đình Lân, phụ trách hành chính công ty cho biết: “Công ty sản xuất khăn xuất khẩu, một tháng sản lượng khoảng 40 tấn, hiện công ty chưa có hệ thống xử lý nước thải, công đoạn sản xuất có dùng hóa chất và phẩm màu nhưng chỉ qua bể lắng rồi thải ra sông Kim Ngưu”. Ông Lân còn cho biết, trước năm 2008 quy mô sản xuất của công ty lớn hơn gấp nhiều lần, gần nghìn công nhân, bây giờ chỉ còn 200 người. Theo kế hoạch, công ty sẽ phải di dời vào năm 2017, nên không đầu tư kinh phí để xây dựng hệ thống xử lý nước thải, từ trước đến nay chưa có cơ quan chức năng nào đến kiểm tra...

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Đà Nẵng chia sẻ công tác bảo vệ môi trường : Thu gom, xử lý nước thải...

Với công tác bảo vệ môi trường cực kỳ tốt trong vấn đề thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải vừa được Đà Nẵng trình bày tại hội nghị về Quản lý tổng hợp tài nguyên tại các thành phố Châu Á diễn ra tại Chiang Mai - Thái Lan đã thu hút sự quan tâm của khá nhiều đại biểu.


Các đại biểu tham dự Hội nghị về Quản lý tổng hợp tài nguyên tại các thành phố Châu Á

Chi tiết thì theo nhóm thành viên của Nexus Đà Nẵng tham dự Hội nghị, các đại biểu của Đà Nẵng đã phát biểu tham luận chia sẻ kinh nghiệm thực hiện dự án Nexus ở Đà Nẵng: "Thu gom nước thải bằng chân không, xử lý nước thải (sản xuất khí sinh học biogas) và sử dụng các sản phẩm phụ (nước tưới tiêu và phân bón từ các nhà máy sản xuất khí sinh học) cho nông nghiệp đô thị" cũng như tiến độ chuẩn bị cho việc triển khai dự án thí điểm về hệ thống thoát nước phải bằng công nghệ hút chân không sẽ nhanh chóng được triển khai ngay tại thành phố Đà Nẵng.



Các đại biểu tham dự Hội nghị bày tỏ kỳ vọng trong tương lai thành phố Đà Nẵng có thể trở thành thành phố kiểu mẫu cho các thành phố khác trong khu vực làm theo với thành công trong việc thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất khí sinh học... qua triển khai thực tế dự án nói trên.

Việc Đà Nẵng nhận được sự công nhận quốc tế qua Giải thưởng đặc biệt “Thành phố chuyển đổi xuất sắc” năm 2015 tại Luân Đôn hồi đầu tháng 6 vừa qua cũng được các đại biểu quốc tế tham dự Hội nghị nhắc lại và chúc mừng thành công của thành phố ở miền Trung nước ta này trong cách tiếp cận tiến bộ và toàn diện để hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững

Được biết, Hội nghị về Quản lý tổng hợp tài nguyên tại các thành phố Châu Á năm 2015 tại Chiang Mai, Thái Lan vừa qua đã thu hút khoảng 120 đại biểu đến từ các nước Ấn Độ,Trung Quốc, Indonesia,  Mông Cổ, Philippines, Thái Lan, và Việt Nam.

Hội nghị được đồng tổ chức bởi Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc châu Á Thái Bình Dương UN-ESCAP và Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức GIZ và chính quyền thành phố Chiang Mai và tổ chức ICLEI. Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ dự án "Quản lý tổng hợp tài nguyên tại các thành phố Châu Á: mối quan hệ đô thị (Urban Nexus)" (sau đây gọi tắt là dự án Nexus), được tài trợ bởi Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế CHLB Đức (BMZ) và được GIZ phối hợp với ESCAP, ICLEI và các thành phố đối tác của dự án triển khai.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Tình trạng khan hiếm nguồn nước ngầm đang ở nguy cơ báo động

Không ai khác con người mới chính là thủ gây lãng phí tới 30% lượng nước ngầm lớn của thế giới, nguy cơ khan hiếm nguồn tài nguyên đáng giá này cũng đang đặt trong mức báo động.



Để đo đạc lượng dự trữ và tần suất sử dụng của hệ thống nước ngầm trên thế giới một nhóm các nhà khoa học thuộc đại học California Irvine đã tiến hành 2 công trình nghiên cứu này. Theo các nhà khoa học, phần lớn dân số trên thế giới đang tận dụng nguồn nước ngầm sẵn có mà không ý thức được rằng nguồn tài nguyên này đang bị khai thác quá tải và đứng trước nguy cơ cạn kiệt.


Tiến hành nghiên cứu trên, các nhà khoa học đã sử dụng các dữ liệu từ những vệ tinh đặc biệt của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) nhằm đo đạc lượng nước ngầm đã sử dụng trong 10 năm (từ năm 2003).


Kết quả nghiên cứu thứ nhất cho thấy trong 37 tầng ngậm nước lớn nhất trái đất, 8 nguồn nước bị đánh giá là hoạt động quá công suất và hầu hết không hề có lượng nước tự nhiên bù đắp. Ngoài ra, 5 tầng ngậm nước khác cũng đang bị khai thác quá tải nghiêm trọng.







Theo các nhà khoa học, những mạch nước ngầm này đa phần tập trung tại những nơi khô hạn nhất và hầu như không có lượng nước bù đắp.


Kết quả nghiên cứu thứ nhất còn liệt kê danh sách những tầng ngậm nước quá tải nhất, trong đó đứng đầu là hệ thống tầng ngậm nước Arab với hơn 60 triệu người sử dụng, tiếp đó là hệ thống tầng ngậm nước lưu vực sông Ấn nằm ở Tây Bắc Ấn Độ, Pakistan và tầng ngậm nước lưu vực Murzuk-Djado ở phía bắc châu Phi.


Theo người đứng đầu nhóm nghiên cứu Alexandra Richey, biến đổi khí hậu và tốc độ tăng dân số là hai yếu tố khiến tình trạng này thêm tồi tệ.


Trong công trình nghiên cứu thứ hai, nhóm khoa học đã đi đến kết luận rằng lượng nước ngầm dự trữ có thể dùng được rất khan hiếm và ước đoán trữ lượng nguồn tài nguyên này có thể thay đổi trong nhiều thập kỷ, thậm chí trong cả thiên niên kỷ.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Tảo : Nguồn nhiên liệu sinh học tự nhiên tuyệt vời

Thời kỳ khủng hoảng năng lượng đang đến gần , vấn đề nhiên liệu đang là vấn nạn toàn cầu trong tương lai gần , do đó việc sản xuất nhiên liệu từ các nguyên liệu dễ kiếm trong thiên nhiên , thân thiện với môi trường đang là đóng góp cực kỳ quan trọng.
Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã làm được điều này khi tạo ra dầu diesel sinh học từ tảo thông qua đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vi tảo biển làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học" thuộc Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 với mã số ĐT.03.09 do Bộ Công thương quản lý.


Việt Nam đã nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm diesel sinh học từ tảo biển trong phòng thí nghiệm.


Một mũi tên trúng 2 đích

Việc dùng tảo để sản xuất nhiên liệu sinh học giống như một mũi tên bắn trúng 2 đích: vừa tạo ra năng lượng vừa làm sạch môi trường. Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn khi thế giới vẫn đang tìm kiếm những nguyên liệu thay thế cho các nguồn nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất như ngô, sắn, mía, đậu nành, cọ, hạt cải… Sử dụng loại nhiên liệu trên giúp làm giảm khí CO2 phát thải so với nhiên liệu hóa thạch, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm gia tăng nguy cơ bất ổn về an ninh lương thực. Thế hệ nhiên liệu sinh học thứ hai sử dụng nguyên liệu là phế thải nông nghiệp hay các cây nhiên liệu trồng trên đất bạc màu, bỏ hoang, vì thế đã được tập trung nghiên cứu. Mặc dù phong phú, sẵn có, song việc sản xuất nhiên liệu từ nguồn này vẫn chưa thực sự có hiệu quả kinh tế do các rào cản về mặt kỹ thuật cũng như gây thế độc canh, mất cân bằng sinh thái.

Được coi là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho nhiên liệu sinh học thế hệ thứ ba và giải quyết được hầu hết các tồn tại nói trên, vi tảo nói chung và vi tảo biển nói riêng đã được các nhà khoa học Việt Nam lựa chọn. Đây là hướng đi có tính khả thi cao. Đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vi tảo biển làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học” đã được thực hiện trong 3 năm (2009-2011), do Phó Giáo Sư Tiến Sỹ Đặng Diễm Hồng và TS Đinh Thị Hằng đồng chủ nhiệm. Mục tiêu chính là lựa chọn và nuôi trồng trên quy mô lớn một số loài vi tảo biển Việt Nam có hàm lượng lipít cao làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học.

PGS.TS Đặng Diễm Hồng cho biết: Mỗi loài tảo chứa hàm lượng dầu khác nhau, có thể biến đổi thành diesel sinh học bằng công nghệ phù hợp hiện có. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vi tảo có khả năng tạo ra được dầu cho sản xuất diesel sinh học cao gấp 15-300 lần so với các cây có dầu truyền thống khác trên cùng một diện tích sử dụng. Cây cọc rào (Jatropha curcas) cho 1.892 lít dầu/ha trong khi vi tảo là 58.700 lít/ha. Không giống như thực vật bậc cao, vi tảo có tốc độ sinh trưởng nhanh, có thể nhân đôi sinh khối trong vòng 24 giờ.

Thành phần dầu của tảo có thể lên tới 80% khối lượng khô. Tỷ lệ dầu chiếm đến 20-50% khối lượng khô là phổ biến ở tảo. Ngoài ra, trong quá trình quang hợp, tảo còn sản xuất ra dầu ngay trong tế bào của chúng. Tảo cũng có thể tăng khả năng sản xuất dầu bằng cách bổ sung khí CO2 trong quá trình nuôi trồng hoặc sử dụng các môi trường giàu chất hữu cơ (như nước thải chăn nuôi gia súc, gia cầm…) để nuôi trồng. Điều này vừa tạo ra nhiên liệu sinh học, vừa làm giảm lượng CO2, làm sạch môi trường, đóng góp tích cực cho việc chống biến đổi khí hậu.

Nhiên liệu từ tảo còn có ưu điểm như ít tính độc, khả năng đốt cháy tốt hơn dầu thô, không gây hiệu ứng nhà kính, có thể sử dụng trực tiếp cho động cơ diesel hoặc pha trộn diesel từ vi tảo với diesel có nguồn gốc dầu mỏ theo các tỷ lệ khác nhau.

Đã có sản phẩm

Đề tài của các nhà khoa học Viện Công nghệ sinh học là công trình nghiên cứu cơ bản đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất biodiesel từ sinh khối vi tảo biển của Việt Nam. Sau 3 năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã có được quy trình công nghệ nuôi trồng 4 loài vi tảo biển tiềm năng (Schizochytrium mangrovei; Nannochloropsis oculata; Chlorella vulgaris; Tetraselmis convolutae) trên quy mô lớn, tạo ra được 7,8 lít diesel đạt 11/15 tiêu chuẩn theo TCVN 7717:2007 về diesel B100 cùng với các sản phẩm phụ như axít béo không bão hòa đa nối đôi (polyunsaturated fatty acids - PUFAs) DHA, DPA, glycerol, phân vi sinh từ sinh khối vi tảo biển nuôi trồng được.

Một kết quả nổi bật khác là thiết kế và sử dụng thành công hệ thống photobioreactor kín (bể phản ứng quang sinh kín) cho việc nhân giống ban đầu có chất lượng và mật độ tế bào cao hơn hẳn so với hệ thống bể hở, bảo đảm chủ động nguồn giống cho nuôi trồng trên quy mô lớn. Điều này cho phép rút ngắn thời gian chuẩn bị giống sơ cấp, giảm tạp nhiễm ban đầu, góp phần giảm đáng kể giá thành sản xuất sinh khối tảo quang tự dưỡng ở Việt Nam. Hiện nay, một số nước bắt đầu ứng dụng công nghệ này và đã chứng minh được tính hiệu quả.

Theo các tác giả đề tài, giá thành diesel sinh học sản xuất được hiện còn khá cao. Tuy nhiên, giá thành sẽ giảm đáng kể nếu gia hóa sản phẩm khác của quá trình sản xuất diesel sinh học như các axít béo không bão hòa đa nối đôi PUFAs (với tỷ lệ bằng 50% lượng biodiesel sản xuất ra), có thể sử dụng làm thực phẩm chức năng cho người và động vật nuôi, làm thuốc chữa bệnh. Ngoài ra, nếu thu nhận và làm tinh sạch được glycerol thải thành sản phẩm thương mại hóa, sử dụng nguồn này để nuôi trồng những loài vi tảo giàu dinh dưỡng khác, đó cũng là giải pháp hạ giá thành…

Tảo biển Việt Nam rất đa dạng, nhiều loài đặc hữu, hứa hẹn là nguồn tiềm năng sản xuất diesel sinh học trong thời gian tới. Hướng nghiên cứu mới giúp rút ngắn khoảng cách về khoa học và công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học so với thế giới.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Trang trại nuôi heo của bí thư xã Bình Ninh bị tố nuôi heo gây ô nhiễm môi trường

Ngoài những vụ lùm xùm xung quanh việc chơi sang của ông bí thư xã Bình Ninh như dùng ô tô biển số ngoại đi làm, lạm dụng chức quyền nghỉ việc không xin phép, người dân nơi đây còn tố ông này nuôi heo gây ô nhiễm môi trường , ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân xung quanh.

Ngày 31/5/2012, ông Trần Văn Thạch – Phó trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, cùng các ban ngành khác đã đến cơ sở chăn nuôi heo của ông Cao Văn Thê để kiểm tra, đánh giá tình hình về việc nuôi heo gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân nơi đây.

Đoàn đã kiểm tra tại vị trí cống xả ra kênh công cộng, vị trí các hộ dân lân cận như nhà ông Huỳnh Văn Minh, nhà ông Trần Văn Tĩnh. Qua đó ghi nhận, việc xả thải ra kênh công cộng của cơ sở chăn nuôi ông Thê chưa được sự đồng ý của UBND huyện Chợ Gạo, vi phạm Luật bảo vệ môi trường.



Một phần trang trại nuôi heo của ông Bí thư xã Bình Ninh - Ảnh: Phan Cường




Tại thời điểm kiểm tra, nước thải chăn nuôi heo từ ao chứa ra biogas được bơm lên vườn dừa của chủ cơ sở, nước có màu đen và có mùi hôi, nước thải chứa ở các rãnh nước tại vườn dừa giáp ranh các hộ dân. Phân heo được cho vào các bao cột miệng và chứa tại trại chăn nuôi (trại nền gạch có mái che, trại hở), chưa xây dựng khu vực chứa phân kín và riêng biệt.

Nước thải từ trại heo bơm thẳng ra vườn dừa, đổ nước thải thoát ra kênh công cộng, nước thải được lưu chứa tại vườn dừa giáp ranh đất các hộ dân. Việc xây dựng hàng rào xung quanh cơ sở chăn nuôi chưa thực hiện đúng theo quyết định số 17/2010-QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND tỉnh Tiền Giang.

Nước thải chăn nuôi heo được cho vào các hầm biogas tổng thể tích khoảng 120m2 nhỏ hơn so với nội dung bản cam kết. Nước xả ra ao chứa sau biogas, nước từ ao chứa sau biogas không đưa vào hệ thống ao sinh học.


Theo đó, biên bản buộc chủ cơ sở là ông Cao Văn Thê không được tiếp tục bơm nước thải chưa qua hệ thống xử lý chăn nuôi heo ra vườn dừa giáp ranh các hộ dân, ảnh hưởng mùi hôi đến những người dân sinh sống xung quanh. Chủ cơ sở chỉ được phép bơm nước thải lên vườn dừa khi chứng minh được nước thải không gây mùi hôi, ảnh hưởng đến hộ dân và phải có văn bản chấp nhận của UBND huyện Chợ Gạo.

Ngoài ra, ông Thê phải đắp kiên cố lại các vị trí xả thải ra kênh công cộng. Tiếp tục thực hiện công văn ngày 20/3/2012 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chợ Gạo. Thời gian khắc phục 20 ngày kể từ ngày lập biên bản.


Heo ông Thê nằm bên trong trại, cách hàng rào, bên ngoài là vườn nhà hộ dân lân cận, nước thải chảy lênh láng với màu đen kèm mùi hôi thối khó tả


Ý kiến của hầu hết người dân nơi có khu vực bị ảnh hưởng, vụ việc ô nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, sức khỏe người dân nơi đây xảy ra 7 năm rồi nhưng đến nay ông Thê vẫn tiếp tục “công việc” của mình mà không xử lý nước thải, chất thải chăn nuôi heo khiến mùi hôi ngày càng nặng. Với ngần ấy thời gian, người dân cam chịu đến khi hết chịu đựng nổi mới viết đơn phản ảnh đến cơ quan chức năng nhiều lần nhưng chẳng có kết quả gì.


Đến nay vụ việc cũng chỉ dừng ở việc lập biên bản “nhắc nhở”, không có biện pháp xử lý thuyết phục đối với ông Thê khiến người dân không..."tâm phục, khẩu phục".

Nhiều gia đình than thở: "Từ lúc ông Thê lập trang trại nuôi heo, mùa nắng thì mùi hôi thối bốc lên khai nồng nặc, mùa mưa thì nhếch nhác, dơ bẩn, kéo theo muỗi mòng sinh nở nhiều. Chân lội nước bẩn, mất vệ sinh nên gây ghẻ ngứa, mũi hít thở mùi hôi thì bị viêm xoang nặng, kéo theo chứng đau đầu mãn tính. Ngủ nghỉ không được khiến cả nhà ai nấy gầy rộc, hốc hác, già trước tuổi".

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Khu vực đông dân cư nghèo tình trạng ô nhiễm đang được kiểm soát

Hợp phần kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực tập trung đông cư dân nghèo đã bộ TNMT tổ chức hội nghị tổng kết vào hôm 8/12.

Hình ảnh một con kênh ở Bến Tre sau khi được cải tạo


Thứ trưởng Bộ TNMT, Trưởng ban chỉ đạo Dự án PCDA Bùi Cách Tuyến đánh giá qua, sau thời gian hơn 5 năm triển khai (từ 2005 đến nay), PCDA đã đạt được hầu hết các mục tiêu đề ra, hiệu quả rõ rệt trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với 4 địa phương được lựa chọn để triển khai dự án là Thái Nguyên, Quảng Nam, Hà Nam và Bến Tre.

Cụ thể, PCDA đã tổ chức 33 khóa đào tạo, tập huấn cho 1.700 lượt cán bộ thuộc các cơ quan quản lý môi trường; 113 Hội thảo phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ môi trường cho trên 11.000 lượt cán bộ cấp xã và cộng đồng.

Dưới sự hỗ trợ của PCDA, 28 văn bản quy phạm pháp luật cấp Trung ương, 18 quyết định hành chính cấp địa phương đã được xây dựng và ban hành, 55 tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lý môi trường đã được xây dựng và xuất bản.

Hợp phần PCDA đã thực hiện thành công một số dự án tiêu biểu như Cải thiện môi trường chợ Bà Rén tại tỉnh Quảng Nam; Xử lý nước thải và chất thải y tế ở Trung tâm Y tế huyện Phổ Yên-Thái Nguyên; Cải thiện môi trường kênh Chín Tế tỉnh Bến Tre; Xây dựng mô hình xã hội hóa việc thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt tại huyện Kim Bảng-Hà Nam; Xử lý nước thải cụm công nghiệp Trường Xuân – Quảng Nam; Cải thiện môi trường và xây dựng mô hình cấp nước cho cộng đồng ở khu vực nhiễm độc dioxin tại Quảng Nam.

Được sự hỗ trợ của PCDA, cả 4 tỉnh tham gia Hợp phần đã xây dựng Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm môi trường cấp tỉnh, dựa vào Khung Kế hoạch hành động KSON. Bên cạnh đó, PCDA còn giúp tạo dựng được mối quan hệ phối hợp trong công tác giữa sở tài nguyên và môi trường các tỉnh với các sở, ban, ngành khác, các huyện, thị và cộng đồng dân cư trong các khâu từ lập kế hoạch bảo vệ môi trường, phân bổ kinh phí và thực hiện dự án.

Có thể kể đến kế hoạch hành động cụ thể của tỉnh Hà Nam với mục tiêu từ nay đến năm 2015, có 95% rác thành phố và 50% rác nông thôn được xử lý, 95% số xã có nhà máy nước sạch hợp vệ sinh.

Tỉnh Thái Nguyên cũng đã xây dựng và ban hành nhiều quy định về quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường. Đồng thời, thực hiện một số đề án bảo vệ môi trường trong nông nghiệp và nông thôn, khai thác khoáng sản, bảo vệ sông Cầu, đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu…

5 hợp phần của chuong trình hợp tác phát triển Việt Nam -Đan Mạch mà hợp phần PCDA là một trong các hợp phần đó, trong lĩnh vực môi trường.
Mục tiêu dài hạn của Chương trình là “Cải thiện chất lượng môi trường ở các vùng tập trung đông dân nghèo, duy trì ở các mức độ có thể chấp nhận được” và 3 mục tiêu trước mắt là xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật; công cụ pháp lý và kiến thức chuyên môn được cung cấp từ cấp Trung ương để thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt ở Hậu Giang

Nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng nghìn hộ dân sinh sống trên địa bàn tỉnh Hậu Giang và cung cấp cho các nhà máy nước đang bị đe dọa do nguồn nước mặt ở khu vực như kênh, rạch đang bị ô nhiễm nặng , ô nhiễm hữu cơ, vi sinh đang có chiều hướng chuyển biến xấu , có nơi độ đục tăng cao gấp 4 lần .

Cụ thể, nguồn nước mặt trên các sông, kênh, rạch chính của tỉnh hiện nay có dấu hiệu ô nhiễm ngày càng tăng, nhất là các thông số TSS và Coliforms. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất của các công ty, doanh nghiệp, hoạt động sinh hoạt và sản xuất của dân cư trong khu vực. Tại các khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh, thương mại - dịch vụ phát triển như thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, xu hướng ô nhiễm đang ngày càng gia tăng. Ngoài ra, tại những nơi vừa đô thị hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển như huyện Châu Thành, Châu Thành A, thì dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, vi sinh trong nguồn nước mặt cũng đã xuất hiện. Gần đây, hiện tượng xâm nhập mặn của nước biển do sự nóng lên của trái đất đang ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu sử dụng nước ngọt của người dân để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Vào lúc đỉnh điểm, có nơi nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng hàng chục km, độ mặn cao nhất đo được hơn 10‰. Điều lo lắng hiện nay, chất lượng nước trên kênh xáng Xà No bị ô nhiễm nặng, khiến các loài thủy sản trên sông chết hàng loạt. Lo ngại hơn, kênh xáng Xà No là nơi cung cấp nguồn nước thô để Công ty cổ phần Cấp thoát nước Công trình đô thị Hậu Giang xử lý phục vụ cấp nước sinh hoạt cho hàng trăm ngàn hộ dân.


Ông Dương Văn Thọ, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cấp thoát nước, Công trình đô thị Hậu Giang cho biết: Hiện nay, chất lượng nước mặt ở kênh xáng Xà No thường không ổn định, nhất là vào mùa mưa, độ đục tăng cao gấp 4 lần so với bình thường. Trong khi, đây là nguồn nước chính để công ty lấy phục vụ sinh hoạt cho hàng trăm ngàn hộ dân ở thành phố Vị Thanh và vùng lân cận. Nếu không có biện pháp quản lý cũng như sự quan tâm của các cấp, các ngành, về lâu dài nguồn nước thô này sẽ không còn sử dụng được. Ông Thọ cho biết thêm, hiện nay nguồn nước của dòng kênh xáng Xà No khu vực thành phố Vị Thanh giảm chất lượng rất nhiều. Do đây là tuyến kênh độc đạo, hàng ngày có rất nhiều ghe tàu chạy qua, trong khi nguồn nước thải của người dân, nhà máy xả trực tiếp ra kênh này. Tỉnh cũng đã có khảo sát một vài điểm để chuyển nhà máy đi nơi khác nhưng đang gặp nhiều khó khăn, chưa chọn được vị trí, nơi có nguồn nước sạch.


Cùng với ô nhiễm nguồn nước mặt, gần đây việc khai thác nguồn nước ngầm tùy tiện, không thăm dò khai thác và việc không trám lấp khi không còn sử dụng hoặc trám lấp không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật tại hộ gia đình, sẽ dẫn đến nguy cơ thông tầng nước ngầm. Các chất ô nhiễm từ phía trên sẽ ngấm xuống các tầng nước ngầm thông qua các lỗ khoan không trám lấp hoặc trám lấp không đảm bảo kỹ thuật, hòa tan vào nguồn nước làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất, thể hiện qua thông số N-NH3 tại tất cả các tầng đều vượt quy chuẩn.


Đặc thù là vùng sông nước, Hậu Giang là địa phương có hệ thống sông ngòi chằng chịt, diện tích nước mặt toàn tỉnh ước tính 11.500 ha. Hiện nay, bình quân lượng nước mặt được khai thác khoảng 200.000 m3/ngày đêm để phục vụ các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Thời gian qua, tình trạng khai thác nguồn nước tùy tiện đã ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt tự nhiên, nhiều nơi có dấu hiệu ô nhiễm nặng, đe dọa nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên nước trên địa bàn.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

Chết người tại hệ thống xử lý nước thải

Tại công ty cổ phần Môi Trường đô thị Hạ Long cụ thể là tại trạm xử lý xả thải thuộc phường Bạch Đằng đã xảy ra tai nạn thương tâm làm 3 công nhân môi trường thương vong, 2 người hôn mê, 1 người tử vong tại chỗ khi đang thực hiện nhiệm vụ. Điều tra sơ bộ ban đầu là tai nạn ngạt khí.
Tai nạn lao động bất ngờ, khó hiểu

Như chúng tôi đã đưa tin, khoảng 9h30 sáng ngày 6/5, tại trạm xử lý nước thải của Công ty CP Môi trường đô thị Hạ Long thuộc tổ 8, khu 18, Phường Bạch Đằng, Thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), xảy ra vụ ngạt khí mê tan, khiến một công nhân tử vong tại chỗ, hai người còn lại hôn mê sâu. Nạn nhân tử vong là anh Nguyễn Văn Mạnh (28 tuổi, phường Cao Xanh), hai nạn nhân hôn mê sâu được điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh là anh Đặng Minh Tuấn (36 tuổi, phường Yết Kiêu), Phạm Ngọc Nam ( 29 tuổi, phường Bạch Đằng).

Tìm gặp anh Nam, người anh hùng ba lần bất tỉnh vẫn lao thân xuống bể xả thải để cứu đồng nghiệp tại khoa cấp cứu bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi được biêt, bản thân anh Nam cũng không thể hiểu nguyên nhân tại sao lại dẫn đến tình trạng trên.




Hiện trường nơi xảy ra án mạng.


Trong giọng nói thều thào anh Nam chia sẻ về người đồng nghiệp xấu số: "Không biết tại sao sự việc lại xảy ra như thế, vì mọi ngày anh em vẫn làm bình thường, trường hợp này là trường hợp đầu tiên cả ba anh em gặp khi thực hiện nhiệm vụ tại đây. Lúc ấy sự việc xảy ra, tôi chỉ nghĩ duy nhất một điều là lao vào cứu anh em, nhưng tôi cũng bị bất tỉnh đến hai lần, sau đó tôi đi tìm người đến hỗ trợ để cứu em Mạnh và anh Tuấn lên khỏi miệng hố. Đến lần thứ ba khi nhảy xuống tôi cũng bị ngất đi không biết gì nữa. Giờ tôi may mắn được cứu sống, nhưng Mạnh đã ra đi, thiệt thòi lớn nhất là cho Manh cùng gia đình vợ con. Dù sao em ấy cũng còn trẻ, lại hiền lành, nhiệt tình với mọi người".

Theo chia sẻ của mẹ anh Nam, cô cho biết: Gia đình neo người, khi anh Nam gặp nạn, vợ đang đưa con đi khám bệnh ở Hà Nội không về kịp, chỉ còn lại mẹ và chị gái túc trực bên cạnh. Hiện tại hoàn cảnh của gia đình anh Nam cũng khá vất vả: bố anh Nam do ảnh hưởng của di chứng chiến tranh hiện đang nằm một chỗ, mọi sinh hoạt đều do mẹ và em tra hỗ trợ, vợ Nam là nhân viên của một tổ chức mặt trận, con còn nhỏ hiện đang bị bệnh phải thường xuyên đi chữa trị trên Hà Nội

Bác sỹ Đặng Thị Thúy - Trưởng khoa hồi sức tích cực, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh cho biết, 2 nạn nhân được đưa vào cấp cứu được xác định bị tổn thương não do ngạt khí mê tan.

“Bố ơi, bố cứu, cứu anh em nhà con chết hết ở dưới bể rồi”

Tìm gặp ông Đinh Viết L (tổ 8, khu 18, phường Bạch Đằng) người đầu tiên cùng gia đình ứng cứu cho ba công nhân tại bể xứ lý nước thải khu Bến Tàu của Công ty Môi trường, ông L cho biết, sự việc xảy ra vào khoảng 9h30 sáng 6/5, khi anh Nam chạy vào kêu cứu, trong nhà lúc này chỉ có bốn người gồm hai vợ chồng ông cùng vợ chồng con gái. Khi mọi người chạy ra tới nơi thì thấy Mạnh đã chết chết dưới bể, còn Tuấn đã bất tỉnh, chỉ có anh Nam sau hai lần bất tỉnh vẫn cố cứu bạn lên, nhưng do nồng độ khí dưới bể quá độc, khiến người to khoẻ vạm vỡ như anh Nam không chịu được. Theo ông L, rất may là người dân đã kịp thời ứng cứ, không thì con số tử vong do ngạt khí độc ở bể chứa này sẽ là cả ba công nhân tham gia thực hiện nhiệm hôm đó.





Bể xử lý nước thải tại phường bạch đằng công ty môi trường.


Việc nạo vét, xử lý bước đầu của trạm này là công việc hàng ngày, tuy nhiên công nhân khi làm nhiệm vụ tại đây đều chỉ mặc quần ủng ngoài ra không có mũ, áo, hay mặt nạ khí bảo hộ nào khác. Công việc tại trạm này thường bắt đầu từ 8h sáng, các công nhân sẽ vớt rác, nạo vét, sau đó bơm hút nước vào hệ thống chuyển lên trạm xử lý tiếp theo rồi lại tiếp tục cho xả nước thải vào. Theo ông L cho biết, do bể quá sâu, lại có nhiều bùn đọng dưới đáy, nên công việc bơm hút hàng ngày rất khó khăn, máy bơm thường xuyên bị hỏng cháy cánh quạt.





Ngày 6/5 máy bơm nước cũng bị hỏng, khiến cả ba công nhân phải tập trung sửa máy, thay xích, thay bơm, rồi nạo vét khá lâu, khi công việc xử lý hoàn thành các anh có điện báo về trung tâm, được chỉ đạo cho xả nước thải vào, anh Mạnh là người cúi xuống mở van nước, khi nước vừa được xả vào, lượng khí độc bất ngờ bốc lên, xộc thẳng vào mũi, khiến anh Mạnh choáng váng lao đầu xuống bể, anh Tuấn và anh Nam có lao vào cứu, nhưng vì không chịu được ngạt khí anh cả hai cũng bị ngất dưới bể. Sau đó Nam tỉnh dậy, tìm cách buộc dây kéo đồng đội lên rồi lại bị ngất, đến lần thứ hai khi tỉnh lại Nam chạy đi tìm người tới giúp.





Theo lời bà Bùi Thị H, vợ ông L, lúc ấy cả hai vợ chồng ông bà đang ngồi trong nhà, thấy anh Nam chạy vào gọi: “Bố ơi, bố cứu, cứu anh em nhà con chết hết dưới bể rồi”. Thấy vậy, ông L cùng con rể chạy đi tìm dây để kéo người, bà H thì đi hô hào dân làng, còn con gái thì gọi điện cho cơ quan chức năng để báo về vụ việc. Sau khi dùng dây buộc tay mình vào tay con rể ông L anh Nam dặn: “Anh phải buộc em vào tay nhé, bằng giá nào cũng phải giữ em, để em xuống”, rồi Nam lao xuống tìm cách đưa hai đồng nghiệp lên. Sau khi đưa được cả ba lên mặt bể, Nam và Tuấn được chuyển lên cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh trong tình trạng hôn mê sâu, chỉ còn Mạnh mãi mãi ra đi.





Cũng theo ông bà trạm xử lý Bến Tàu được xây dựng từ năm 2007, là trạm chứa nước thải của toàn thành phố, chất thải sau khi được bơm về đây, sẽ qua xử lý bước đầu, rồi được bơm lên trạm Lán Bè, tiếp tục chuyển về trạm Hà Khánh rồi cuối cùng là trạm Đèo Sen. Hàng ngày sinh hoạt của 8 hộ dân quanh khu vực bể chứa rất vất vả, do mùi khí thải bốc lên từ bể chứa rất khó chịu, hôi thối. Trẻ con thường xuyên bị viêm phổi, đặc biệt con dâu của ông bà cũng đã từng bị ung thư vòm họng gần 7 năm nay do ngày nào cũng hít khí độc bốc lên từ miệng hố.

Theo bà H, khu vực phường Bạch Đằng có rất nhiều người dân sinh sống, cũng như khách du lịchthường xuyên qua lại, nhưng mùi hôi thối vẫn ngày ngày bốc lên, không chỉ có thế, gia đình bà H đã nhiều lần có ý định bán nhà chuyển đi nơi khác, nhưng không tìm được người mua, vì “thối thế này ai mua, bán rẻ cũng không ai mua”, cuộc sống rất vất vả, cùng cực. Gia đình bà cùng các hộ dân trực tiếp chịu ảnh hưởng từ hố nước thải đã nhiều lần làm đơn kiến nghị lên các cơ quan chức năng nhưng vẫn chưa có phản hồi gì.

Sau cuộc trò chuyện ông L đã dẫn PV đến mục sở thị hố thải “tử thần”, xung quanh khu vực được xây tường bao, cửa sắt ra đóng vào khoá. Nắp bể được làm bằng sắt, trong bể có đường ống dẫn nước lớn đường kính chừng 50 cm. Được biết nước thải của toàn phố sẽ được xả thẳng vào bể này qua đường ống trên. Tuy nhiên chính PV sau khi quan sát bể chưa nước xong cũng không thể đứng được lâu do mùi nước thải xộc lên, khiến PV đau đầu phải đi ra ngay.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Ngân hàng nông nghiệp nói gì khi DN muôn bỏ vốn đối ứng

Để giảm thiêu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo tiến độ thực hiện dự án của các dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở thương mại được chuyển công năng sang nhà ở xã hội thường có tổng đầu tư rất lớn doanh nghiệp cần có khả năng tài chính tốt.



Dự án nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp được Bộ Xây dựng cho phép và cấp tín dụng trong gói 30.000 tỷ đồng hỗ trợ xây dựng nhà ở xã hội của Chính phủ. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp phải bỏ vốn đối ứng tối thiểu 40% là quá nhiều, trong khi thời hạn cho vay đối với doanh nghiệp để đầu tư chỉ 5 năm là quá ngắn, gây rất nhiều khó khăn, áp lực về tài chính cho các doanh nghiệp đối với dự án thuần túy chỉ mang tính chất phục vụ xã hội không mang nhiều tính chất thương mại kinh doanh,…

Cử tri tỉnh Nam Định Đề nghị Nhà nước nghiên cứu có các chủ trương, chính sách phù hợp để khuyến khích hoạt động đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp, cụ thể là các chính sách về thuế thu nhập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư cần được đơn giản hơn, có các giải pháp hỗ trợ tích cực về nguồn vốn và kỳ hạn vay vốn dài hạn cho các dự án đầu tư mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng như khu xử lý nước thải và đảm bảo môi trường, xây dựng ký túc xá cho công nhân và nhà ở xã hội cho công nhân tại các khu công nghiệp.

Về ý kiến các doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân phải bỏ vốn đối ứng tối thiểu 40% là quá nhiều và thời hạn cho vay đối với doanh nghiệp để đầu tư chỉ 5 năm là quá ngắn, gây rất nhiều khó khăn, áp lực về tài chính cho các doanh nghiệp

NHNN có ý kiến rằng, việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về chính sách xây dựng nhà xã hội, trong đó có các doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, NHNN đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ gói tín dụng 30.000 tỷ đồng cũng như đẩy nhanh tốc độ giải ngân, trong đó có các dự án nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp.

Về mức đối ứng của doanh nghiệp: Theo các quy định hiện hành, mức vốn tối thiểu tham gia vào dự án, phương án vay của đối tượng khách hàng doanh nghiệp là 30% tổng mức đầu tư dự án, phương án vay. Các dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội thường có tổng mức đầu tư rất lớn. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo việc thực hiện dự án, doanh nghiệp cần có khả năng tài chính tốt.

Mặc khác, nguồn vốn ưu đãi dành cho các doanh nghiệp chỉ chiếm 30% tổng nguồn vốn của chương trình (9.000 tỷ đồng), trong khi đến nay Bộ Xây dựng đã 8 lần công bố danh mục các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội được tham gia vay vốn theo chương trình này với tổng cộng 106 dự án, tổng mức đầu tư 36.050 tỷ đồng.

Do đó, để nhiều dự án được tham gia chương trình hơn thì quy định mức cho vay tối đa đối với khách hàng doanh nghiệp bằng 70% tổng mức đầu tư của dự án là phù hợp.

Về thời hạn cho vay: Do thời gian xây dựng các dự án nhà ở thường kéo dài từ 2-3 năm và trong quá trình xây dựng, chủ đầu tư có thể bán các căn hộ cho người mua và thu tiền theo tiến độ. Vì vậy, thời hạn cho vay tối đa 5 năm là phù hợp với thời gian thu hồi vốn của các dự án xây dựng nhà ở.

Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn và có rất nhiều nội dung quan trọng cần được quan tâm, đầu tư thì việc ưu tiên dành nguồn vốn đáng kể cho các dự án nhà ở xã hội là nỗ lực lớn của Nhà nước. Rất mong cử tri cảm thông và chia sẻ.

Về ý kiến: Có các giải pháp hỗ trợ tích cực về nguồn vốn và kỳ hạn vay vốn dài hạn cho các dự án đầu xây dựng ký túc xá cho công nhân và nhà ở xã hội cho công nhân tại các khu công nghiệp.

NHNN cho hay, hiện nay, chính sách hỗ trợ về nguồn vốn đối với các dự án nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp thuê thuộc danh mục được vay vốn tín dụng đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nguồn vốn này được thực hiện qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam, do vậy, chủ đầu tư các dự án nhà ở cho công nhân khu công nghiệp thuê liên hệ với Ngân hàng Phát triển Việt Nam để được xem xét vay vốn theo quy định.

Bên cạnh đó, để triển khai Nghị quyết 61/NQ-CP ngày 21/8/2014 của Chính phủ, NHNN đã ban hành Thông tư số 32/2014/TT-NHNN, theo đó đối tượng được tham gia chương trình tín dụng 30.000 tỷ đồng, trong đó có các doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được chuyển đổi công năng sang dự án nhà ở xã hội do Bộ Xây dựng công bố trong từng thời kỳ được hưởng nhiều ưu đãi như: Thời hạn vay vốn đối với các doanh nghiệp tham gia dự án là 5 năm và lãi suất vay không quá 6%. Vì vậy, nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp nghiệp được Bộ Xây dựng phê duyệt cũng được hưởng những ưu đãi này.

Tuy nhiên, để có nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu vốn để xây dựng nhà ở cho công nhân cần có chính sách huy động từ nhiều nguồn khác nhau ngoài nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước như: Vốn trái phiếu Chính phủ, Vốn từ Quỹ phát triển nhà của địa phương,... có chính sách hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng phát triển nhà ở cho công nhân.

Đồng thời, cần có sự quan tâm chỉ đạo của các Bộ ngành liên quan và các cấp Chính quyền địa phương trong việc bố trí quỹ đất cũng như đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân để chính sách phát triển về nhà ở cho công nhân tại khu công nghiệp thật sự có hiệu quả.

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Trạm nước thải di động ở Cần Thơ đã được vận hành thành công

Trạm phân tích nước thải di động tại các nhà máy ở khu công nghiệp Trà Nóc, thuộc thành phố Cần Thơ đã được các chuyên gia nghiên cứu công nghệ vận hành thành công . Thông tin này được biết từ ông Bùi Duy Cam - phó giáo sư tiến sỹ , nguyên hiệu trưởng trường đại học KHTN, chủ nhiệm dự án hợp tác Việt Đức vào ngày 18/11.


Trạm phân tích nước thải di động này hoạt động như một phòng thí nghiệm, có thể phân tích và cho kết quả ngay đối với các chất độc hữu cơ, các chất ôxy hòa tan, phân tích PH, độ axit, độ kiềm của nước thải...

“Các thiết bị phân tích tình trạng ô nhiễm trong nước thải khu công nghiệp được bố trí lắp đặt trong thùng xe container và sẽ cho kết quả phân tích mức độ ô nhiễm nước nước thải ngay lập tức,” ông Cam khẳng định.

Được biết, các thiết bị và mô hình trạm phân tích nước thải di dộng này đều thuộc dự án hợp tác giữa phía Việt Nam và Đức trong giai đoạn 2012-2014 với nguồn vốn hỗ trợ khoảng 2,5 triệu euro.

Trao đổi thêm với phóng viên Vietnam+ về tính năng của trạm phân tích nước thải khu công nghiệp di động, ông Cam cho biết, thông thường các trạm quan trắc phải lấy mẫu mang về phòng thí nghiệm, một thời gian sau mới có kết quả, còn thiết bị của trạm phân tích nước thải di động giúp cho các nhà kiểm soát phân tích nhanh, đánh giá ngay được hiện trạng.

“Đơn giản chỉ cần kéo theo trạm này đến các khu công nghiệp, khi đưa mẫu nước vào sẽ có kết quả và số liệu phân tích trong ít phút,” ông Cam nói.

Ông Cam cũng cho biết, đây là trạm phân tích nước thải di dộng đầu tiên ở Việt Nam. Toàn bộ dự án và các trang thiết bị đều đã được phía Đức bàn giao cho trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Kết quả đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá là tốt.


Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, tính đến hết tháng 10/2014, cả nước đã có 296 khu công nghiệp được thành lập, 664 cụm công nghiệp được phê duyệt quy hoạch chi tiết.

Tại các khu công nghiệp phát sinh lượng nước thải chứa nhiều hóa chất kim loại lên tới trên 600.000m3/ngày đêm. Điều đáng lo ngại là, công nghệ xử lý chất thải tại các khu công nghiệp phần lớn là thủ công lạc hậu nên nước thải ra môi trường đa số chưa được xử lý, gây ô nhiễm môi trường, trong đó có tới 97% các cụm chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải.

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Ngừng hoạt động các cơ sở y tế không có hệ thống xử lý nước thải

Mặc dù đặt mục tiêu trong năm 2012 tất cả các cơ sở y tế như phòng khám, bệnh viện,... trên địa bàn Tp phải có hệ thống xử lý nước thải y tế đạt tiêu chuẩn khi vận hành, đề ra mục tiêu như vậy và mặc dù đã rất quyết tâm nhưng đến nay còn tồn đọng rất nhiều phòng khám, bệnh viện vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế trong khi thời hạn đã qua lâu.


Dự án xử lý nước thải y tế của BV Từ Dũ TPHCM vẫn còn ngổn ngang 



Nơi ì ạch, nơi chờ phê đấu thầu

Nằm đối diện ngay khu khám bệnh dịch vụ, khuôn viên xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế của BV Từ Dũ TPHCM vẫn còn khá bừa bộn. Sau những cơn mưa vừa qua, cả một bãi sình lầy cùng gạch cát lổn nhổn vương ra cả lối đi vốn đã nhỏ hẹp dành cho người bệnh. Một anh công nhân cho biết dự án sắp xong rồi, độ đôi ba tháng nữa thôi. Nhìn tấm bảng thông báo dán ngay bờ rào, chúng tôi thấy ghi: “Từ ngày 1-7-2011 đến 31-12-2011, BV Từ Dũ xây dựng khu xử lý nước thải, công tác thi công ảnh hưởng đến việc đi lại, kính mong bệnh nhân thông cảm”.

Từ thông báo này mà suy ra là hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Từ Dũ có thể hoàn thành vào cuối năm 2011, nhưng không hiểu sao đến nay vẫn ngổn ngang. Cách đó không xa, một tấm bảng khác thông báo dự án thi công xây lắp và cung cấp, lắp đặt thiết bị hệ thống thu gom và xử lý nước thải BV Từ Dũ công suất 1.500m3/ngày đêm. Trao đổi với phóng viên, BS Lưu Thế Duyên, Phó Giám đốc BV Từ Dũ cho biết khoảng một tháng nữa HTXLNT của BV sẽ hoạt động.

Tuy nhiên, dù gì dự án trên cũng đã chậm trễ so với yêu cầu đạt ra trước quy mô khám và điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi ngày… Trong khi đó, có tới 6 BV tuyến thành phố khác đến nay vẫn đang trong quá trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu, thực hiện các bước thẩm tra dự toán và thiết kế kỹ thuật. Đó là BV Cấp cứu Trưng Vương, BV Nhân dân Gia Định, BV Nhi đồng 2, BV Bình Dân, BV Tâm Thần và BV Y học Cổ truyền.

Theo Sở Y tế TPHCM, sớm lắm thì cũng phải qua tháng 7 tới các BV trên mới tổ chức đấu thầu theo quy định và tiếp theo mới xúc tiến khởi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế. Không những BV thành phố, mà nhiều BV quận huyện cũng đang ì ạch chuẩn bị hồ sơ lên dự án xây dựng HTXLNT. Chẳng hạn, từ trước đến nay, nơi xử lý nước thải y tế của BV quận 2 là một cái bể đã không vận hành từ lâu, cỏ mọc um tùm. Cách nay hơn 1 tháng, BV quận 2 mới tiến hành khảo sát thực địa để làm HTXLNT. Bác sĩ Trần Văn Khanh, Giám đốc BV quận 2, nói sắp mở rộng BV, bệnh nhân đang ngày càng đông lên nhưng cũng vài ba tháng nữa mới xây dựng khu xử lý nước thải.


Kiên quyết... đóng cửa

Trước áp lực Nghị quyết của HĐND TP và chỉ đạo của UBND TPHCM về công tác xử lý nước thải y tế, ngày 7-6 vừa qua, Sở Y tế TPHCM đã có báo cáo cho rằng vẫn còn nhiều BV công lập và ngoài công lập từ trực thuộc Trung ương đến trạm y tế, phòng khám đa khoa và chuyên khoa chưa xây dựng được hệ thống xử lý nước thải y tế. Sở Y tế cho biết trong số 21 BV thuộc khối Trung ương thì chỉ có 11 BV thực hiện xử lý nước thải y tế đạt chuẩn, 6 BV xử lý không đạt, 4 BV chưa đầu tư HTXLNT gồm Trung tâm Chỉnh hình và phục hồi chức năng (Bộ Lao động Thương binh và xã hội), BV Điều dưỡng và phục hồi chức năng bưu điện II và BV Bưu điện II (Tập đoàn Bưu chính viễn thông), BV Giao thông vận tải 8 (Bộ Giao thông vận tải).

“UBNB TP đã có công văn gửi cho các cơ quan chủ quản của các BV Trung ương đề nghị bảo đảm công tác bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động, ưu tiên vốn đầu tư HTXLNT y tế đạt chuẩn rồi” - ông Huỳnh Văn Biết, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM, cho biết. Trong khi, 31 BV trực thuộc Sở Y tế TPHCM thì cũng mới chỉ 20 BV có HTXLNT y tế đạt chuẩn môi trường, còn lại là không đạt chuẩn hoặc chưa đầu tư. Riêng 322 trạm y tế phường xã, hiện đã có 157 trạm được lắp đặt HTXLNT với công suất 2m³/ngày đêm và theo Sở Y tế TPHCM thì trong tháng 6 này sẽ hoàn tất HTXLNT ở các trạm còn lại.

Tuy nhiên, vấn đề được các cơ quan quản lý là Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đau đầu hiện nay là gần như 100% trong số 285 phòng khám đa khoa và chuyên khoa của khối tư nhân không có hệ thống xử lý nước thải y tế theo quy định. Trao đổi với phóng viên, nhiều chủ phòng khám than thở là bệnh nhân ít, trong khi đầu tư HTXLNT tốn kém. Nhưng về mặt quản lý, Sở Y tế TPHCM cho rằng nguy cơ lây truyền dịch bệnh, hóa chất từ các phòng khám khi xả thẳng nước thải ra môi trường mà không qua xử lý cũng không phải ít. Vì vậy, bắt buộc có hệ thống xử lý nước thải y tế là cần thiết.



Theo ông Huỳnh Văn Biết, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM, không chỉ phòng khám tư nhân mà căn cứ Công văn số 1882/UBND-VX của UBND TPHCM ngày 26-4-2012, sẽ kiên quyết xử lý cả các BV không có hệ thống xử lý nước thải y tế đạt chuẩn theo quy định. Theo đó, từ tháng 6 này, Tổ công tác liên ngành (gồm Sở Y tế, Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường và Phòng Cảnh sát Môi trường PC49 - Công an TP) tổng kiểm tra các cơ sở y tế tại thành phố, nếu các cơ sở y tế nào chưa thực hiện xong HTXLNT y tế thì nhắc nhở triển khai đầu tư xây dựng theo đúng quy chuẩn. “Đến tháng 9- 2012 sẽ kiểm tra lại, nếu cơ sở y tế nào không có hệ thống xử lý nước thải y tế đạt chuẩn thì buộc tạm đình chỉ hoạt động, khi nào có đầy đủ HTXLNT y tế đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường - QCVN28:2010/BTNMT, thì mới được tiếp tục cho phép hoạt động lại” - Phó Giám đốc Huỳnh Văn Biết khẳng định.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Các làng nghề nhiều dự án xử lý nước thải triển khai chậm

Cuộc sống và sự phát triển bền vững của các làng nghề đang bị ảnh hưởng bởi chính tình trạng ô nhiễm của các làng nghề ở Hà Nội . Vấn đề này bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân thứ nhất là do công tác kiểm soát các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường chưa được các cấp, các ngành tiến hành chặt chẽ, thứ 2 và quan trọng nhất là do chưa có giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng xử lý nước thải .


Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề là do các cơ sở sản xuất trong khu vực làng nghề có quy mô nhỏ (chủ yếu là hộ gia đình), nằm trong khu dân cư, phần lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải ô nhiễm môi trường nước thải, rác thải và không khí theo quy định.


Đặc biệt, nguồn kinh phí đầu tư công nghệ, xây dựng công trình xử lý ô nhiễm môi trường lớn; nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường cho cộng đồng của các hộ sản xuất còn kém; lực lượng và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý về môi trường cũng còn hạn chế. Các cấp chính quyền địa phương lại chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường nên nhiều chương trình, nhiệm vụ chưa đạt kế hoạch đề ra.

Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Phạm Văn Khánh cho biết, từ năm 2012 đến nay, Sở đã tiến hành khảo sát được 17 làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó lựa chọn được 6 làng nghề đặc biệt ô nhiễm về nước thải để triển khai thí điểm công nghệ xử lý phù hợp. Hiện, nhiều dự án xử lý nước thải có quy mô lớn tại các làng nghề đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện nhưng nhìn chung tiến độ vẫn rất chậm.

Cụ thể như dự án đầu tư xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tại xã Dương Liễu (huyện Hoài Đức) công suất 13.000 m3/ngày đêm để xử lý nước thải làng nghề khu vực 3 xã Cát Quế-Dương Liễu-Minh Khai. Đây là dự án thí điểm thực hiện cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương trong khuôn khổ chương trình bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy.

Dự án đã triển khai hoàn thành giải phóng mặt bằng 10.000 m2 đất và các thủ tục đầu tư xây dựng trạm biến áp 1500KVA phục vụ Nhà máy xử lý nước thải này. Ủy ban Nhân dân xã Dương Liễu được thành phố giao làm chủ đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn xã để phục vụ việc thu gom nước, rác thải của cả 3 xã.

Tuy nhiên, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Công văn số 7122/VPCP - KTN ngày 15/9/2014 của Văn phòng Chính phủ, UBND thành phố đang xem xét đề xuất của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại Phú Điền về việc được xã hội hóa dự án này. Nếu được lựa chọn, năm 2015 Công ty sẽ triển khai thi công xây lắp và dự kiến đưa vào hoạt động trong năm 2016.

Cũng trên địa bàn huyện Hoài Đức, dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tại xã Sơn Đồng có tổng mức đầu tư 231,5 tỷ đồng, thực hiện đầu tư trong thời gian 2014-2016. Dự án mới hoàn thành thẩm tra, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự toán; phấn đấu trong năm nay phê duyệt xong phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chi trả kinh phí giải phóng mặt bằng; năm 2015 sẽ tổ chức triển khai gói thầu thi công xây lắp công trình xử lý. Song, theo chủ đầu tư, dự án đến nay mới cân đối được 50 tỷ đồng, trong khi kế hoạch ghi vốn năm 2015 là 80 tỷ đồng.

Tương tự, dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tại xã Vân Canh (huyện Hoài Đức) được thành phố phê duyệt với tổng mức đầu tư 140 tỷ đồng. Mặc dù dự án đã hoàn thành công tác thẩm tra, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự toán; Ủy ban Nhân dân huyện đang tiến hành chi trả kinh phí giải phóng mặt bằng, dự kiến khởi công công trình trong quý 1/2015, nhưng dự án cũng đang gặp khó khăn về cân đối vốn thực hiện trong năm tới.

Theo phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Phạm Văn Khánh, để từng bước khắc phục ô nhiễm môi trường, thành phố đã triển khai một số mô hình thí điểm xử lý ô nhiễm làng nghề. Đó là các dự án: Thí điểm xử lý nước thải cho làng nghề chế biến tinh bột sắn xã Tân Hòa (huyện Quốc Oai); xây dựng thử nghiệm mô hình xử lý bụi làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ tại xã Vân Hà (huyện Đông Anh); xử lý ô nhiễm nước thải làng nghề Bích Hòa (huyện Thanh Oai).

Các dự án đều thực hiện bằng chế phẩm, đã được nghiệm thu và bàn giao cho cơ sở sản xuất quản lý sử dụng; đồng thời đang được phổ biến nhân rộng mô hình xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại khu vực làng nghề này.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Hiện trạng xử lý nước thải, chất thải y tế, bệnh viện ở Đồng Nai

Nước thải bệnh viện nếu không được xử lý đúng cách và xả thải ra môi trường khi chưa đạt tiêu chuẩn gây nguy hại cực kỳ nghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe con người, là tác nhân gây ra các bệnh về đường tiêu hóa và có có khả năng lây lan bệnh dịch theo lời ông Lê Huy Thạch , đại diện viện vệ sinh y tế công cộng Tp Hồ Chí Minh - thành viên đoàn thanh tra bộ y tế trong chuyến giám sát kiểm tra xử lý chất thải y tế Đồng Nai cho hay.
Theo Sở Tài nguyên - môi trường, tổng lượng nước thải của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh hơn 5.000 m3/ngày, trong đó 70% lượng thải từ khối nước thải bệnh viện.

* “Ngại” xử lý vì tốn kém

Hiện các bệnh viện, trung tâm y tế và phòng khám đa khoa khu vực đều có hệ thống xử lý nước thải bệnh viện với tổng công suất thiết kế là 5.466 m3/ngày, tuy nhiên phần lớn nước thải cuối nguồn của các cơ sở y tế không đạt tiêu chuẩn vì hiện 90% hệ thống xử lý nước thải bệnh viện tại các cơ sở y tế đã xuống cấp, công suất xử lý quá tải. Ngay cả chất lượng nước thải của những hệ thống xử lý mới được xây dựng và nâng cấp cũng chưa đạt. Thậm chí có bệnh viện, dù có hệ thống xử lý nước thải y tế nhưng “quên” hoạt động vì ngại tốn kém.

Hệ thống xử lý nước thải của Bệnh viện đa khoa Trảng Bom đã ngưng hoạt động từ 3 năm nay.


Mới đây, Đoàn thanh tra Bộ Y tế đã về kiểm tra hoạt động xử lý chất thải y tế tại Đồng Nai. Qua kiểm tra thực tế tại một số bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, đoàn cho rằng hoạt động của hệ thống xử lý nước thải tại các bệnh viện rất trì trệ. Ngay cả ở những bệnh viện lớn của tỉnh, nước thải bệnh viện sau xử lý cũng chưa đạt. Thậm chí, hai bệnh viện hạng 1 của tỉnh cũng nằm trong danh sách những cơ sở gây ô nhiễm môi trường của tỉnh.
TIN LIÊN QUAN


Bác sĩ Phạm Văn Dũng, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Thống Nhất thừa nhận: “Hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện đang quá tải. Công suất thiết kế ban đầu là 170 m3/ngày, nhưng lượng nước thải thực tế hiện nay đã gấp đôi. Để hạn chế lượng nước thải cũng như độ độc hại của nước thải, bệnh viện đã phải thay công nghệ tráng phim X-quang, CT bằng hóa chất nước sang công nghệ tráng khô khá tốn kém. Nhưng đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Lâu dài, bệnh viện vẫn cần một hệ thống xử lý nước thải y tế mới với công suất 500 m3/ngày. Mới đây, dự án này đã được Sở Y tế đầu tư với tổng vốn 17 tỷ đồng”. Còn tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai, hệ thống xử lý nước thải trước đây công suất cũng chỉ 200 m3/ngày, trong khi thực tế đang “gánh” công suất đến 300-400 m3/ngày. Trong khi chờ chuyển sang bệnh viện mới vào năm 2015, thì việc đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý nước thải bệnh viện vẫn đang được triển khai.
Với tính chất độc hại, nước thải bệnh viện có sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ các khoa phòng, bệnh viện lây nhiễm. Nếu nước thải này được xả thải vào nguồn nước chung mà không qua xử lý, sẽ tạo nguy cơ lan truyền dịch bệnh và người dân sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc mầm bệnh phát sinh từ việc tiếp xúc với nước thải y tế không được xử lý đạt.


Còn những bệnh viện đa khoa khu vực và đa khoa tuyến huyện, nhiều nơi nước thải y tế được thải tự do ra môi trường, không qua xử lý. Bệnh viện đa khoa Trảng Bom dù đang trong giai đoạn xây dựng, nhưng hệ thống xử lý nước thải bệnh viện công suất 50 m3/ngày được xây dựng từ năm 2000 và nằm riêng một góc bệnh viện, không liên quan đến khu vực xây mới, nhưng cũng 3 năm nay, hệ thống đã ngưng hoạt động. Nước thải của bệnh viện chưa qua xử lý được xả thải thẳng ra môi trường cho tự thấm. Vào mùa mưa, nước thải bệnh viện hòa cùng nước mưa chảy tràn ra môi trường, xuống các cống rãnh và đi vào hệ thống sông, suối trên địa bàn. Cũng ở bệnh viện này, lượng nước thải nguy hại từ khu vực xét nghiệm, nước từ khâu tráng rọi phim X-quang cũng không được khử độc bằng hóa chất hay qua hệ thống lắng lọc mà cứ thế được thải ra môi trường. Theo giải thích của giám đốc bệnh viện, vì bệnh viện đang trong giai đoạn xây dựng nên mới... tạm ngưng xử lý.

Ở Bệnh viện đa khoa Biên Hòa, gần 10 năm nay, dù hệ thống xử lý nước thải đã được đầu tư và đi vào hoạt động nhưng công suất hoạt động vẫn đang quá tải so với thiết kế.

Riêng các trạm y tế xã và các cơ sở y tế tư nhân, lượng nước thải khoảng 200 m3/ngày gần như không có được mấy nơi có hệ thống xử lý nước thải bệnh viện. Một số ít phòng khám đa khoa tư nhân mới đi vào hoạt động cũng có lắp đặt hệ thống xử lý nước thải nhưng chủ yếu là để đối phó với các đoàn kiểm tra chứ ít khi máy hoạt động!

* Bất cập và thiếu chế tài

Một trong những bất cập hiện nay của tình trạng nước thải không đạt chuẩn là do trước đây, các hệ thống xử lý nước thải bệnh viện được phép thải ra đạt loại B theo TCVN-1995. Nhưng đến năm 2002, Bộ Tài nguyên - môi trường quy định nước thải y tế đổ ra sông, kênh rạch phải đạt chuẩn loại A. Việc này khiến nước thải của nhiều bệnh viện không đạt yêu cầu. Trong khi đó, nâng cấp để nước thải từ loại B lên A là rất khó khăn và tốn kém.
Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành đang đầu tư mở rộng hệ thống xử lý nước thải bệnh viện


Một bất cập khác, xử phạt các vi phạm trong xả thải ở các bệnh viện cũng rất khó. Ông Hoàng Văn Thống, Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên - môi trường cho biết: “Qua kiểm tra cho thấy phần lớn nước thải của các cơ sở y tế không đạt tiêu chuẩn. Nhưng việc xử phạt đối với những cơ sở đặc thù như bệnh viện là rất khó. Thông thường những doanh nghiệp vi phạm xả thải đầu tiên sẽ bị cảnh cáo, nhắc nhở và xử phạt. Nếu tiếp tục vi phạm sẽ bị buộc hạn chế lượng xả thải, cao hơn là buộc ngưng xả thải và cuối cùng là đóng cửa nhà máy... Nhưng đối với các bệnh viện, nhất là hệ thống bệnh viện công lại không thể buộc hạn chế xả thải, đình chỉ xả thải hay đóng cửa bệnh viện, vì mỗi ngày có hàng ngàn người dân đau ốm cần nơi khám chữa bệnh. Ngay cả xử phạt hành chính, các bệnh viện có nộp phạt thì cũng là tiền của Nhà nước cả, có khác là chuyển từ đơn vị này sang đơn vị kia mà thôi”

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Chỉ dẫn cách thực hiện các tiêu chí môi trường

Thông tư số 55 ngày 31.12.2014 bộ NNPTNT có một số hướng dẫn thực hiện tiêu chí môi trường như triển khai một số hoạt động bảo vệ môi trường trong hàng loạt chương trình mục tiêu về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020.
Cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường gồm: Xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước, xử lý nước thải; xây dựng các điểm thu gom, xử lý chất thải rắn; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái, phát triển cây xanh.

Về xử lý nước thải, chất thải: Việc xử lý nước thải, chất thải phải phù hợp với điều kiện các vùng nông thôn, công nghệ đơn giản, chi phí đầu tư, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp, quản lý vận hành đơn giản, dễ thực hiện.

Nước thải chăn nuôi hộ gia đình phải thu gom, xử lý nước thải bằng các hình thức hầm biogas, hố ga lắng cặn, ao sinh học… trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung của thôn, xã hoặc thải ra môi trường. Nước thải sinh hoạt phải thu gom, xử lý chất thải bằng các hình thức bể tự hoại, hố ga lắng cặn.

Đối với chất thải rắn, phải xử lý theo hình thức chôn lấp. Các bãi chôn lấp chất thải rắn ở xã nông thôn mới không có hệ thống thu gom rác thải chung của huyện, thành phố phải đáp ứng các yêu cầu như đảm bảo quy mô sức chứa ít nhất 10 năm, có hàng rào cách ly với khu dân cư xung quanh; không có hiện tượng nước chảy tràn ra khỏi khu xử lý…

Đối với quản lý, cải tạo nghĩa trang, UBND xã có trách nhiệm vận động, hướng dẫn người dân thực hiện chôn cất tập trung trong khu nghĩa trang theo quy hoạch; khuyến khích, tuyên truyền, vận động người dân hỏa táng hợp vệ sinh ở những địa phương có điều kiện.

Nghĩa trang phải có hệ thống cấp thoát nước đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường. Rác thải ở nghĩa trang được thu gom và chuyển đến nơi xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường…

Một nhiệm vụ quan trọng khác là cải tạo, xây dựng ao hồ sinh thái, phát triển cây xanh. Theo đó, hệ thống ao hồ sinh thái trong khu dân cư phải đảm bảo tạo mặt bằng thoáng, điều tiết khí hậu, tạo cảnh quan đẹp, có khả năng phát triển chăn nuôi, thủy sản, tạo nguồn lợi kinh tế.

Hệ thống cây xanh trong các xã nông thôn mới phải đảm bảo diện tích bằng hoặc lớn hơn 2m2/người. Ưu tiên trồng cây xanh ở các địa điểm công cộng như trụ sở xã, nhà trẻ, trường học, trạm y tế xã…

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Các kênh rạch, sông ngòi cần được xử lý nước thải triệt để ô nhiễm


2000 km kênh rạch , sông ngòi chằng chịt, mật độ dày đặc của Tp. Hồ Chí Minh đóng nhiều vai trò giao thông thủy, điều hòa không khí, tiêu thoát nước và làm sạch môi trường. Tuy nhiên do trong quá trình sinh hoạt, sản xuất của các nhà máy, doanh nghiệp... xả nước thải ra hệ thống kênh rạch mà không qua hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống xử lý nước thải không đạt tiêu chuẩn, nhất là đoạn ở quận Thủ Đức.






Theo thông số quan trắc của Tổng cục Môi trường triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh, mức độ ảnh hưởng của các loại hình nước thải bao gồm: nước thải công nghiệp,nước thải sinh hoạt,  nước thải y tế,nước thải chăn nuôi,  nước rỉ từ các bãi rác. Trong số này, nước thải sinh hoạt chiếm lưu lượng khoảng 1,2 triệu m3/ngày, đứng đầu về tải lượng ô nhiễm của các nguồn thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Quận Thủ Đức với vị trí thấp trũng hiện nay được xem là điểm nóng về xả thải vào kênh rạch vì nơi này tập trung nhiều nguồn thải khiến chất lượng nguồn nước kênh rạch giảm sút nhanh chóng, trong đó có nguyên nhân về hệ số nước thải sinh hoạt. Mặt khác, quận Thủ Đức còn là nơi tiếp giáp với Đồng Nai, Bình Dương nên phải "gánh" lượng nước thải sinh hoạt, y tế, chăn nuôi....từ hai tỉnh lân cận này chảy qua địa bàn.



Tổng diện tích đất sông ngòi, kênh rạch ở Thủ Đức khoảng 423,62 ha với 60 hệ thống kênh rạch lớn nhỏ đang bị tác động rất lớn từ hệ thống cống xả thải trực tiếp của các hộ dân, phòng trọ sát kênh rạch trên địa bàn mà không qua bể tự hoại từ nhà vệ sinh. Mặt khác, nhiều hộ dân vẫn vứt rác trực tiếp ra kênh rạch gây tăng thêm ô nhiễm, làm tắc nghẽn dòng chảy khiến tình trạng ô nhiễm trầm trọng hơn. Hệ thống quán ăn, nhà hàng, hệ thống xử lý nước thải sản xuất công nghiệp, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, chợ…dày đặc. Đây là nguồn thải "góp phần" không nhỏ lượng nước thải sinh hoạt ô nhiễm vào hệ thống kênh rạch, sông ngòi ở địa phương. Một tác nhân không thể không nhắc đến gây ảnh hưởng đến sự ô nhiễm trên địa bàn Quận Thủ Đức con kênh Ba Bò, tiếp giáp với tỉnh Bình Dương.



Nhiều năm trước, kênh Ba Bò là điểm nóng về xả thải khi tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với quận Thủ Đức cũng làm tăng mức độ ô nhiễm của con kênh. Nước kênh Ba Bò đen sì, đặc quánh và bốc mùi rất khó chịu. Con kênh này tiếp nhận nước thải trực tiếp của các khu công nghiệp Sóng thần 1, Sóng Thần 2, nước thải sinh hoạt của các hộ dân từ tổ 11 đến tổ 16 xã Bình Hòa, thị xã Thuận An (Bình Dương), một phần nước thải từ các sơ sở sản xuất thuộc phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức. Đặc biệt, nhánh rạch đổ vào kênh Ba Bò còn là nơi trực tiếp nhận nước thải từ chợ nông sản Thủ Đức và các hộ dân xung quanh khu vực này.



Thời gian qua, đã có nhiều hoạt động phối hợp giữa thành phố Hồ Chí Minh- Bình Dương nhằm kiểm tra nguồn thải, chống xả thải trộm và đề ra các biện pháp xử lý chất thải cơ hữu. Song kênh Ba Bò vẫn tiếp tục là một "điểm đen" về xả thải với mức độ nhiễm sắt (Fe) lên cao nhất đến 4,93 lần, Coliform lên cao nhất đến 32.933 lần và nhiều độc chất khác vượt mức cho phép nhiều lần.

Theo các kết quả quan trắc của Tổng cục Môi trường, đa số các kênh rạch trên địa bàn quận Thủ Đức bị ô nhiễm bởi các thông số BOD5, NH40N, TSS, Coliforms.. ở mức cao tại các phường Tam Phú, Tam Bình, Trường Thọ, Trường Thọ và Linh Trung.



Qua khảo sát tại Thủ Đức, Viện Môi trường và Tài nguyên đã đưa ra một số giải pháp như tăng cường nạo vét kênh rạch, áp dụng cơ chế liên phường, liên quận, liên tỉnh trong vùng giáp ranh để kiểm soát ô nhiễm và vận động người dân không xả rác bừa bãi, cải tạo hệ thống vệ sinh. Tuy nhiên, các giải pháp này không được thực hiện đồng bộ nên hiệu quả khắc phục ô nhiễm chưa cao.



Một yếu tố khách quan khiến tình trạng ô nhiễm chưa được cải thiện chính là chế độ bán nhật triều ảnh hưởng từ Biển Đông khiến việc tiêu thoát nước của Thủ Đức rất chậm. Tuy nhiên mức độ ô nhiễm cao về bản chất vẫn do sự xả thải từ các hộ dân và các hoạt động công nghiệp trên địa bàn. Tỉ lệ thu gom rác ở quận Thủ Đức chưa bao giờ đạt mức 100% .




Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Phượng, Viện Môi trường và Tài nguyên: Quận Thủ Đức có suối Cái Nhum và suối Xuân Trường phía Đồng Bắc chảy theo hướng từ cao xuống thấp; còn khu phía Tây Nam (giáp ranh trung tâm) là hệ thống kênh rạch dày đặc chịu ảnh hưởng của thủy triều. Địa hình này cộng thêm sự gia tăng nhanh của dân số cơ học do thu hút lao động vào các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn cùng như sự gia tăng các trường đại học tạo một sức ép rất lớn về môi trường cho Thủ Đức. Dù chính quyền địa phương có ban hành và thực thi một số chính sách về kiểm soát và xử phạt song tình trạng ô nhiễm vẫn chưa cải thiện.



Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Phượng, chính quyền cần quyết liệt hơn đối với các cơ sở vi phạm để hạn chế tình trạng gây ô nhiễm, "cứu" các con kênh trên địa bàn.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Làng nghề hay làng ô nhiễm

Một trong những nơi tập trung nhiều làng nghề nhất đó là Hà Nội có khoảng 1.350 làng và tập trung tới 750K lao động. Nhờ thế mà thu nhập bình quân đầu người ở những làng nghề này khá cao, tỉ lệ thất nghiệp cực thấp.
Song hành cùng cuộc sống phát triển đó là vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng ở các làng nghề tác động mạnh tới chất lượng ,cuộc sống và gây nhiều hệ lụy cho thế hệ đời sau. Đấy là những lời bức xúc từ chính những người trong làng nghề.

Khổ như dân Triều Khúc

Sau những ngày mưa dầm dề, Hà Nội có phần khô ráo và dễ chịu hơn. Tuy nhiên, những ngày này với người dân làng Triều Khúc (Tân Triều, Thanh Trì) thì vô cùng khổ sở. Dọc đoạn đường dài dẫn vào khu nghĩa trang Giò Gà, nơi có 7 hộ dân làm nghề sản xuất lông vũ, đâu đâu cũng phơi đầy lông gà, lông vịt, ruồi nhặng bu kín. Xe máy qua lại làm lông bay tứ tung. Nước từ các cống rãnh đen ngòm, mùi hôi thối, ẩm mốc bốc lên, tỏa đi khắp làng. Người đi đường đều phải đeo khẩu trang, gác chân lên xe thật cao để tránh bị lông vấy bẩn. Theo bà Triệu Thị Loan (68 tuổi), đã có hơn 10 năm làm nghề, lông gia cầm được thu gom từ khắp các nơi, sau đó rửa sạch, phơi rồi mới đem đi chế biến. Nước rửa lông gà, lông vịt xả thẳng ra cống thải của làng. "Làm nghề này chỉ có ốm nhừ mà chết non, lúc nào cũng đau lưng, khó thở. Thế nên tôi mới bỏ, kiếm quán nước gần nhà bán chứ không dám làm nữa" - bà Loan than thở.

Lông gia cầm phơi dọc đường vào xã Tân Triều gây ô nhiễm môi trường.


Không chỉ có nghề tái chế lông vũ, làng Triều Khúc còn gần 130 cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ tái chế phế liệu, đây chính là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng. Phế liệu mua về, đem phân loại, sau đó chặt nhỏ rồi rửa sạch, đóng thành những bao tải lớn bán cho các cơ sở sản xuất. Nước thải đổ ra cống, chảy xuống sông Tô Lịch. Tiếng ồn khi chặt, xay nhựa, mùi hăng hắc và hôi nồng nặc từ nhựa tái chế không chỉ làm đau đầu nhức óc những người xung quanh, mà còn gây ô nhiễm không khí.

Theo báo cáo thực trạng môi trường làng nghề thôn Triều Khúc gửi UBND huyện Thanh Trì năm 2014, 100% nước thải trong sinh hoạt và sản xuất chưa được thu gom và xử lý tập trung. Rác thải sinh hoạt và rác thải sản xuất được đội vệ sinh thu gom bằng xe đẩy, ước tính khoảng 17-18 tấn/ngày đêm, tập kết tại 2 thôn. UBND xã đã ký hợp đồng với Xí nghiệp môi trường đô thị thu gom vận chuyển về nơi quy định để xử lý. Tuy nhiên, số lượng rác thải chưa được thu gom, vận chuyển kịp thời trong ngày còn nhiều dẫn đến phát sinh một số địa điểm chôn rác tự phát nằm ven làng gây mất vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị. Tại thôn Triều Khúc, một khối lượng lớn rác thải sinh hoạt và sản xuất để lưu cữu chưa được vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định.

Nằm ngay cạnh một bãi rác của làng Triều Khúc là căn nhà xiêu vẹo của gia đình anh Nguyễn Quang Hà (39 tuổi). Anh Hà cho biết: "Nhà tôi ở tận xóm trong, nhưng có đất ở đây nên phải ra ngoài này chăn nuôi cho cỏ với rác khỏi lấn. Khu vực này sắp thành bãi rác của Hà Nội rồi. Rác đổ khắp nơi, cả rác sinh hoạt có, rác tái chế có. Bị cấm nhưng họ vẫn tranh thủ ban đêm chở xe đến đổ rồi châm lửa đốt. 2h sáng khói vẫn bay vào sặc sụa khắp nhà. Có nhà khi khoan nước giếng, khí metan bốc lên, thả tàn đóm xuống là bốc lửa, mùi nước thì không ngửi nổi".

Nghẹt thở ở Thụy Ứng

Người dân làng Thụy Ứng (xã Hòa Bình, Thường Tín) cũng đang đau đầu đối phó với nạn ô nhiễm. Là một trong những làng nổi tiếng với nghề ủ da và sản xuất lược sừng trâu, sừng bò, kinh tế phát triển, nhưng khi bước chân đến đây, nhiều người không khỏi rùng mình vì mùi nồng nồng, thum thủm bốc lên khắp nơi. Theo một người có thâm niên với nghề ủ da trâu bò thì họ thường đi thu mua nguyên liệu (da, sừng, xương, móng trâu, bò) ở khắp mọi nơi về chế biến. Da trâu, da bò sau khi thu gom về được ướp với muối, ủ lại, chờ đến khi đủ số lượng các thương lái sẽ thu mua. Số lượng có khi lên đến hàng chục tấn. Các loại xương và sừng, móng cũng được rửa sạch, phơi khô để làm lược. Nước thải xả trực tiếp ra cống làng.

Quá trình ủ da trâu, bò diễn ra trong nhiều ngày khiến không khí xung quanh quánh đặc một thứ mùi nồng nặc. Nghiêm trọng hơn, nước thải từ các hộ kinh doanh theo cống thải trực tiếp xuống ruộng khiến hàng chục héc ta không thể canh tác được. Bà Nguyễn Thị Dự (58 tuổi), ở xóm 7 cho biết: Ở làng này, có lúc, cây cỏ không thể mọc nổi chứ đừng nói gì đến lúa. Mấy hộ sống ở ven đồng trồng được cây mía, mừng lắm, đến khi chặt ăn thì mặn không nuốt nổi. Nhiều gia đình chăn vịt ở đồng này, vịt uống phải nước bị ô nhiễm nên cũng chết hàng đàn. Người ta tiếc của, sợ không dám nuôi nữa... Còn theo bà Nguyễn Thị Khương (68 tuổi) nước uống, nấu ăn, gia đình phải mua ở Trạm Y tế của xã. Nước sinh hoạt thì đào sâu tận 70-80m mới dám sử dụng vì nếu khoan cạn, nước vừa mặn lại có mùi hôi. Nhiều ngày, nhất là vào mùa hè nhà bà phải đóng cửa, thắp hương mới bớt mùi.

Tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng Thụy Ứng diễn ra nhiều năm nay, khiến người dân vô cùng bức xúc. Các hộ gia đình có đất canh tác bị ô nhiễm đã đệ đơn lên xã đề nghị các hộ gia đình làm nghề ủ da trâu, da bò phải ngừng sản xuất. Sau khi cảnh sát môi trường và chính quyền vào cuộc, điều kiện sống của người dân có phần được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Loay hoay khắc phục ô nhiễm

Ô nhiễm tại các làng nghề tại Hà Nội không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, gây ra các bệnh về tiêu hóa và mắt, bệnh hô hấp, bệnh ngoài da và các bệnh khác như các bệnh tai, mũi, họng, thần kinh... mà còn gây ra nhiều hệ lụy trong đời sống xã hội. Nhiều địa phương đã đưa ra giải pháp nhằm đẩy lùi ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Riêng Tân Triều đã thành lập Tổ công tác giúp việc cho UBND xã trong công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm về pháp luật bảo vệ môi trường, xây dựng đề án nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ môi trường của xã đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; xây dựng đề án nông thôn mới, trong đó có mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cả chính quyền và người dân đều thừa nhận họ đang gặp vô vàn khó khăn trong việc cải thiện môi trường, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Nguyên nhân là do câu chuyện "cơm, áo, gạo, tiền" của nhân dân và kinh phí eo hẹp của chính quyền địa phương.

Theo ông Nguyễn Hữu Tâm, cán bộ Phòng Địa chính - Môi trường xã Tân Triều, trong số gần 130 hộ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến tái chế phế liệu, có 47 hộ tham gia mua phế liệu nhựa đồng nát, 70 hộ tham gia hoạt động sơ chế nhựa và 11 hộ tái chế nhựa. Hiện tại xã đang định hướng đưa các hộ kinh doanh dịch vụ tái chế nhựa vào cụm sản xuất làng nghề tập trung. Tuy nhiên, việc vận hành và cung cấp dịch vụ cho cụm sản xuất làng nghề còn nhiều bất cập như: Chưa đưa trạm xử lý nước thải vào hoạt động, chưa vận hành điện chiếu sáng, điện sản xuất không ổn định, công tác thu gom rác thải chưa thường xuyên... "Hơn nữa, nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ không đủ tiền mua đất ở cụm sản xuất nên việc di chuyển rất khó khăn. Bên cạnh đó, xã định hướng cho các hộ gia đình làm nghề tái chế nhựa chuyển sang làm dịch vụ khác hoặc kinh doanh nhà trọ nhưng không phải hộ nào cũng có vốn và đất để làm buôn bán và xây phòng", ông Tâm cho biết thêm.

Cũng giống như Triều Khúc, kinh phí đầu tư cho xử lý ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề chính quyền xã Hòa Bình gặp phải. Theo ông Nguyễn Văn Học, Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Bình, hiện nay ở Thụy Ứng vẫn còn 3 hộ thu gom và xử lý da trâu, da bò và hàng chục hộ gia đình mua hàng ở nơi khác về giao bán cho các đại lý lớn trong xã. Ông Học cho biết: "Phát triển làng nghề luôn có hai mặt, một mặt mang lại đời sống khấm khá cho người dân, nhưng tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường. Hiện nay tại địa phương chưa có kinh phí để xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Đây thật sự là bài toán nan giải mà chúng tôi đang đau đầu tìm hướng giải quyết".

Với kinh phí khoảng 1.350 tỷ đồng sở công thương Hà Nội đưa ra kế hoạch xử lý nước thải ô nhiễm môi trường với mong muốn tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề sẽ được giải quyết ổn thỏa.